Phát trên clip.vn
Lễ hội còn là dịp để người dân Mường tỏ lòng tôn kính với các vị thần linh; là nơi để con người cầu mong cho xóm làng yên vui, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi phát triển; là nơi gặp gỡ, giao lưu, gạt bỏ những lo toan, vất vả trong cuộc sống thường nhật, để thắt chặt thêm tình đoàn kết cộng đồng.
Lễ hội Khai hạ Mường Bi năm nay được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng Giêng, năm Đinh Hợi, gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ là sự kết hợp hài hòa giữa lễ cổ truyền và lễ hiện đại. Lễ cổ truyền được tổ chức với đám rước kiệu Quốc Mẫu Hoàng Bà và Tam vị Tản Viên Sơn Thánh từ miếu thờ Thành Hoàng xóm Lũy, xã Phong Phú ra sân vận động để làm lễ tế Thần. Phần hội với những trò chơi dân gian (bắn nỏ, kéo co, đánh cù, đánh mảng…), văn nghệ dân gian (thi xắc bùa, hát đối…) và ẩm thực dân tộc độc đáo.
Theo truyền thuyết dân gian vùng Mường Bi thì Quốc Mẫu Hoàng Bà chính là thân mẫu của Thánh Tản. Hoàng Bà vi hành từ núi Tản, sông Đà đến vùng Mường Bi thăm dân gian. Được nhân dân vùng Mường Bi đón tiếp tử tế, chu đáo. Cảm kích trước tấm lòng ấy, Bà đã chỉ dạy cho người dân Mường Bi cách làm ruộng hai vụ, cách chăm sóc lúa tốt bời bời, dạy bảo dân làng các ăn ở…Sau đó, Bà ra bờ suối xóm Lồ bay về trời.
Tương truyền, Tản Viên Sơn Thánh là con rể của Hùng Vương thứ 18 đã cùng hai em họ là Cao Sơn Đại Vương và Qúy Minh Đại Vương hợp sức thiên hạ giúp Vua Hùng chống giặc ngoại xâm. Sau chiến thắng Vua ban thưởng công lao cho Tản Viên Sơn Thánh là Nhạc Phủ kiêm Thượng Đẳng Thần; Cao Sơn Đại Vương là Tả Kiên Thần; Qúy Minh Đại Vương là Hữu Kiên Thần. Theo sự tích, ở vùng Ba Vì (Sơn Tây), vùng sông Tích Giang và các vùng Mường cổ đều thờ Thánh Tản Viên (Người Mường Hòa Bình gọi là Thánh Đản). Các triều đại phong kiến Việt Nam phong mỹ đều gọi là “Thượng Đẳng Thần”. Cũng như đồng bào Mường ở các vùng khác, đồng bào Mường ở vùng Mường Bi (Tân Lạc) đã thờ vong hồn Quốc Mẫu Hoàng Bà và Tam vị Tản Viên Sơn Thánh.
Lễ hội Khai hạ Mường Bi xưa thường do các chức sắc quan lang tổ chức. Trước hôm khai hạ một ngày, người dân vùng Mường Bi tổ chức một cuộc đi săn thú rừng và lấy sản vật là thịt thú rừng săn bắn được như con nai, con hoãng làm lễ cúng Thành Hoàng trong ngày khai hạ (tục xưa chỉ lấy những con thú có bộ lông màu vàng để cúng, tối kỵ lấy những con có bộ lông màu đen).
Buổi sáng hôm đó, người dân không phân biệt trẻ, già, ai có thể trèo đồi, leo núi đều cùng kéo nhau đi săn. Một người săn giỏi (trùm săn) cùng các cụ già có kinh nghiệm bàn định hướng xuất phát và chọn điểm săn. Khi đến điểm đã định, mọi người cùng tỏa ra bao vây khu rừng. Những người thợ săn giỏi có súng kíp hoặc nỏ (ná) nhanh chân tìm chỗ đón lõng các khe núi, lối mòn thú hay đi. Những người khác khép kín dần vòng vây, cùng hò reo, hú inh ỏi đuổi bắt thú. Nhiều người cầm chiêng, loại chiêng nhỏ (chiêng boòng beeng) đánh theo điệu đi săn. Những chú chó của Mường theo hiệu lệnh cồng săn sục xạo các bụi rậm đánh hơi thú.
Ngoài việc đi săn thú, theo quy định, hàng năm, nhà Lang sẽ chia một phần ruộng cho một gia đình trong xóm Lũy chuyên cấy lúa thơm để làm cỗ cơm cúng ngày Khai hạ. Gia đình nào được nhà Lang tín nhiệm lấy đó là việc hệ trọng phải có trách nhiệm chăm sóc lúa cho tốt.
Đến ngày mồng 5, 6 tháng Giêng, trước hôm Khai hạ hai ngày, gia đình phải tự chày thóc cho vào cối giã thành gạo, nấu cơm thật ngon để cúng Thành Hoàng.
Ngày Khai hạ, tất cả những người đi dự hội đều mang theo một gói cơm nắm, riêng các Lang, ậu và ông Mo thì không phải mang.
Lễ cúng được tổ chức tại miếu thờ xóm Lũy. Người điều khiển phần nghi lễ do ông Mo đảm nhiệm. Sau khi hoàn thành cỗ lễ và bày đặt xong xuôi, thầy Mo, Lang, các ậu cùng nhân dân đi rước bóng Quốc Mẫu Hoàng Bà và Tam vị Tản Viên Sơn Thánh từ bờ suối Lồ – nơi Quốc Mẫu Hoàng Bà về trời.
Tại bờ suối trải sẵn đôi chiếu hoa; chiếu thứ nhất đặt một đĩa trầu cau têm hình cánh phượng; kiệu hạ đặt trên chiếu thứ hai; đoàn rước xếp hàng hai bên. Thầy Mo thắp hương và khấn mời Quốc Mẫu Hoàng Bà và Tam vị Tản Viên Sơn Thánh về dự Khai hạ với dân làng. Sau đó, đoàn rước quay về miếu, kiệu hạ ngoài sân, quay đầu hướng vào miếu, đoàn rước xếp hai bên. Thầy Mo nâng đĩa trầu, dâng đặt vào miếu và bắt đầu cúng.
Thầy Mo cúng mời các ngài ăn xong, thì lúc đó chỉ có nhà Lang mới được phép vào thắp hương trong miếu.
Sau lễ cúng tế, mọi người tham dự lễ hội cùng ăn uống vui vẻ và vui chơi hội suốt buổi chiều hôm đó. Vui hội ngày xưa là tham gia vào các trò chơi dân dân gian như thi ném còn, đẩy gậy, đấu vật, bắn nỏ, đi cà kheo, chơi đu, đánh cù, đánh mảng và thi hát đúm, hát thường đang, thi xắc bùa…
Theo tập quán Mường Bi, chỉ sau Lễ Khai hạ người dân mới được phép vào rừng lấy củi, ra đồng bắt cá, cày cấy.
Lễ hội Khai hạ ngày nay là sự kết hợp hài hòa giữa hiện đại và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đêm Khai hạ ngoài tiếng chiêng trầm hùng vang vọng, chúng ta còn được nghe những là điệu dân ca ngọt như mật ong, trong như dòng suối, cùng những bài hát mới ca ngợi vẻ đẹp, sự đổi mới của bản làng quê hương từ những chàng trai, cô gái đất Mường Bi. Rộn ràng trong không khí xuân ấm áp, Lễ hội Khai hạ mang đến sắc thái mới cho vùng quê Mường giàu truyền thống văn hóa đang trên đổi mới.
Hoàng Thư
(Báo Hoà Bình)







